Thời điểm vàng cho nới room ngân hàng?

.

Các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại hóa toàn cầu thì mức độ rui ro trong kinh doanh tài chính ngày càng lớn.

Thị trường tài chính Việt Nam có 10 ngân hàng thương mại lớn được NHNN cho thí điểm và quản trị vốn, rủi ro theo tiêu chuẩn Basel 2 từ năm 2016. Đến nay, nhiều ngân hàng đã đi từng bước cụ thể để chuẩn hóa tiêu chuẩn quản trị rủi ro này như VCB, BID, OCB, MBB, TCB, MBB, CTG...

Để giúp cho quá trình vận hành, quản trị rủi ro ngân hàng một cách hiệu quả ủy ban Basel 2 đưa ra 3 tiêu chí quan trọng. Thứ nhất, là yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I. Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I, nhưng rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường; Thứ hai là cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà Hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).

Thứ ba, là sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin, theo đó các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường và Basel 2 đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. 

Những lợi ích nói chung của NHTM khi thực hiện chuẩn hóa Basel 2 là cải thiện và lành mạnh hóa nền tài chính, thị trường tài chính cũng như sức khỏe của các ngân hàng thương mại. Từ quản trị đó có thể thấy rằng việc nguồn vốn của ngân hàng luôn đảm bảo khi có rui ro xảy ra để đảm bảo các hoạt động của NHTM vẫn diễn ra một cách an toàn, đảm bảo. Từ các yếu tố rui ro như rủi ro trong điều hành, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường được chuyển hóa một cách có hệ thống, có lượng hóa để từ đó để thay đổi phương thức điều hành, đưa ra những quyết định dựa trên nguyên tắc quản trị rủi ro, phương thức được cho là điển hình và có hiệu quả kể từ khủng hoảng tài chính 2007.

Quản trị ngân hàng theo Basel 2 sẽ lượng hóa được những rui ro nhất định trong kinh doanh ngân hàng mà ở đó nhà quản lý có thể đánh giá được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng cách lượng hóa bằng những con số thực tế là khi ngân hàng cần bao nhiêu vốn để bù đắp được rủi ro ấy.

Ngoài ra áp dụng quản trị theo hình thức này ngân hàng sẽ kiểm tra được sức khỏe của chính mình bằng các thực tế kiểm nghiệm sức chịu đựng  rủi ro.

Đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, sau quá trình thử nghiệm và vận hành trong hơn hai năm qua thì nhiều ngân hàng đã áp dụng phương thức điều hành, quản trị theo tiêu chuẩn BASEL 2. Một số ngân hàng có thể tiếp cận phương pháp này một cách hiệu quả trong giai đoạn tái cấu trúc vừa qua như ACB VCB CTG BID…

Triển khai Basel 2 sẽ giúp cho các ngân hàng hoạt động lành mạnh hơn, an toàn do trình độ và năng lực về quản lý, về vốn của ngân hàng tốt hơn, quản trị nội bộ được tăng cường kiểm soát, tăng cường quản trị rui ro nội bộ…Chính vì quản trị theo Basel 2 với các chỉ số về thanh khoản, về vốn, về hệ thống quản lý đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ khiến cho việc thu hút dòng vốn đầu tư từ nước ngoài dễ dàng hơn. Đặc biệt khi tham gia vào khối WTO, hay  Hiệp định thương mại tự do( FTA)…Các cam kết này sẽ hướng cho những ngân hàng trong hệ thống tài chính đạt chuẩn quốc tế, từ đó việc thu hút vốn, nhân sự và công nghệ diễn ra một cách thuận lợi.

Ông Phạm Văn Tuyến, Giám đốc môi giới chi nhánh Hà Nội, CTCP chứng khoán KIS Việt Nam.

Quá trình cổ phần hóa, nới room ở nhiều DNNN được diễn ra mạnh mẽ

Trong năm 2017, việc nới room của nhiều DNNN diễn ra một cách mạnh mẽ.  Chính phủ đã có những chỉ đạo bằng các văn bản như Nghị định 60, Thông tư 123…và  nhiều văn bản hướng dẫn khác về nới room. Đến nay việc nới room cho khối ngoại được quyền sở hữu tối đa 100% cổ phần tại các công ty cổ phần, các DNNN thoái vốn hoàn toàn được tháo gỡ. Những doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước được quyền thay đổi giấy phép kinh doanh cho phù hợp với ngành nghề theo quy định của pháo luật để rộng đường cho việc nới room cho khối ngoại.

Năm 2017  chính là năm bản lề cho sự kiện này khi hàng loạt các DNNN được bán vốn mà chủ yếu bán cho đối tác nước ngoài thu về hàng tỷ đô la Mỹ, góp phần bù đắp ngân sách quốc gia cũng như nâng cao năng  lực, nâng cao quản trị điều hành của doanh nghiệp, áp dụng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế, hưởng lợi thế từ các thế mạnh như công nghệ, con người và về vốn; từ đó giúp cho các  doanh nghiệp được thoái vốn nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính, đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả góp  phần vào quá trình phát triển nền kinh tế nói chung.

Điển hình của những doanh nghiệp được nới room trên sàn chứng khoán trong năm qua như DMC- dược phẩm y tế Domesco, DHG- dược Hậu Giang, BMP-nhựa Bình Minh, NTP- nhựa Tiền Phong, VCG-Tổng Vinaconex…đặc biệt có sự thoái vốn thành công của những doanh nghiệp lớn như VNM hay SAB trong cuối năm 2017.

Thoái vốn VNM với hơn 3,3% tại SCIC đã thu về cho Nhà nước gần 9.000 tỷ đồng với giá 186.000 đồng/cp. Đây được cho là khởi đầu cho sự thành công trong việc thoái vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết lớn. Trước đó, VNM đã tiến hành Đại hội cổ đông thông qua việc cho nước ngoài quyền nắm tối đa 100% sở hữu.

Tiếp đà thoái vốn thành công của VNM là cổ phần Bia Sài Gòn- SAB(hose) cũng đã tạo nên bước ngoặt  trong việc thoái vốn DNNN trên sàn niêm yết. Với mức giá thoái vốn 320.000 đồng/ cổ phần nhà nước thu về hơn 100.000 tỷ đồng( tương đương gần 5 tỷ đô la Mỹ). Đây được cho là 2 thương vụ thoái vốn thành công và thu về hơn 100.000 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước trong cuối năm 2017.

Đầu 2018, quá trình cổ phần hóa, đấu giá cổ phần cũng diễn ra trên diện rộng đối với các doanh nghiệp như BSR- Lọc hóa dầu Bình Sơn với hơn 241 triệu cổ phần giá đấu bình quân 23.043 đồng; nhà nước thu về hơn 5.566 tỷ đồng cao gấp rưỡi so với dự kiến; tiếp theo đó là những doanh nghiệp như PVoil, PVPOWER…cũng thu về hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách.

Như vậy, trong năm 2018 Chính phủ tiếp tục thúc đẩy thoái vốn cổ phần ở nhiều doanh nghiệp, đấu giá cổ phần ở nhiều công ty có vốn nhà nước để sớm chào sàn… Đây được cho là một trong những nhiệm vụ them chốt và trọng điểm của thị trường tài chính trong năm nay.

Với tinh thần Chính phủ kiến tạo, lấy trọng tâm là các doanh nghiệp tư nhân làm nòng cốt để phát triển kinh tế đất nước; những DNCP sẽ là nơi có “đất “ để diễn trong giai đoạn kinh tế đất nước đang tiến vào kỷ nguyên mới về hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Với việc bán vốn cổ phần nhằm giảm sự phụ thuộc của DN vào Nhà nước, lầy vai trò chủ đạo là phát triển kinh tế tư nhân. Việc thoái vốn trong năm nay và các năm tiếp theo sẽ tiếp tục diễn ra một cách mạnh mẽ. Chính phủ bằng cách này hay cách khách sẽ hỗ trợ các DNNN thoái vốn hiệu quả hơn, bán vốn để thu về cho ngân sách nhà nước nhằm phục vụ các nhiệm vụ quốc gia.

Vậy thoái vốn ngân hàng còn chờ đến bao giờ?

Có thể nói rằng, sau suy thoái 2007 đến nay nhiều ngân hàng đã phá sản hay sáp nhập. Cũng từ đó hệ lụy về việc sáp nhập hệ thống ngân hàng mang lại những rắc rối, những hậu quả nặng nề của quá trình tái cấu trúc mà vốn của các ngân hàng sau sáp nhập không đảm bảo rằng đủ để duy trì hoạt động có hiệu quả để đáp ứng kênh  huy động, điều tiết và luân chuyển dòng vốn.

Ngân hàng có thể nói là huyết mạch của nền kinh tế. Vì vậy, việc nâng cao năng lực quản trị điều hành, nâng cao năng lực về vốn, quản trị rủi ro nội bộ, tính bảo mật cần thiết hơn bao giờ hết. 

Các NHTM Việt Nam hiện nay cũng đang trong quá trính tái cấu trúc theo đề án mà NHNN đã trình BCT phê duyệt giai đoạn 2016-2020. Trong đó việc ưu tiên giải quyết hiện nay là hạ tỷ lệ nợ xấu, nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại, kiểm soát rủi ro…Tuy nhiên, trong thời gian qua nhiều ngân hàng đã có những vướng mắc nhất định và tạo ra những hệ lụy lớn gây ảnh hưởng cho nền kinh tế nói chung. 

Để đảm bảo các nguyên tắc về an toàn tài chính, tăng trưởng tín dụng luôn ở mức cao cùng với quá trình hạ tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại. Nhiều ngân hàng thực hiện quản trị theo tiêu chuẩn Basel 2, một phương pháp quản trị hệ thống ngân hàng theo chuẩn hóa quốc tế mà ở đó các NHTM ngày càng minh bạch về tài chính, quản trị được rủi ro thông qua năng lực về vốn của ngân hàng và quá trình quản trị khắt khe giúp cho sức khỏe của ngân hàng theo phương pháp này thực sự hiệu quả. Từ đó, giúp cho quá trình phân bổ vốn, luân chuyển vốn vào nền kinh tế một cách có hiệu quả, tránh được những rủi ro mang tính hệ thống.

Với quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong những năm vừa qua và việc NHNN cho phép thành  lập các ngân hàng có vốn 100% là ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Việc nới room cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào việc mua lại, tăng tỷ lệ sở hữu đối với các NHTM trong nước cho nhóm, khối nhà đầu tư nước ngoài chính là nâng cao năng lực về tài chính, về quản trị điều hành, quản trị rủi ro của các NHTM trong nước.

Để đáp ứng về năng lực cạnh tranh với các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, NHNN nên có lộ trình cho phép NĐTNN được nâng tỷ lệ sở hữu từ mức 30% lên mức 49% đối với các NHTM trong nước nhằm gia tăng năng lực quản lý, công nghệ và vốn. Mặt khác, đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của của quá trình cam kết hội nhập kinh tế quốc tế như WTO, FPT CPTPP…

Phần kết: Thiết nghĩ, việc nới room cho hệ thống các ngân thương mại lúc này là cần hơn bao giờ hết để đáp ứng những nhu cầu về hội nhập, canh tranh với các ngân hàng quốc tế trên thị trường tài chính. Nhà nước vẫn duy trì tỷ lệ đảm bảo có quyền chi phối(51%) và các quyền khác thông qua pháp luật, luật ngân hàng. Từ việc nới room cho nhà đầu tư nước ngoài, không những chúng ta vừa đạt được những cam kết khi gia nhập, hội nhập kinh tế quốc tế mà còn thu hút được lượng vốn lớn của NĐTNN, nâng cao năng lực về vốn, về quản trị điều hành, quản trị rủi ro và các tiêu chuẩn khác theo thông lệ quốc tế.

Như vậy, theo người viết đánh giá việc nới room cho ngân hàng thương mại, đặc biệt những ngân hàng thương mại lớn mà Nhà nước nắm quyền chi phối trong giai đoạn hiện tại chính là thời cơ vàng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, khi mà TTCK đang ở trong giai đoạn bùng nổ. Từ đó, việc minh bạch hóa các doanh nghiệp niêm yết, các ngân hàng… nâng cao vị thế của thị trường để tiến tới quá trình đánh giá để nâng hạng thị trường chứng khoán diễn ra một cách thuận lợi.

Ông Phạm Văn Tuyến (CTCK KIS VIỆT NAM)

Nguồn: tbdn.com.vn